Hiển thị các bài đăng có nhãn Health. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Health. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013
Tác động của Thiền định và việc ăn các loại thịt đỏ đến một con người bằng thực nghiệm
Dưới đây là một thử nghiệm thực tế của bản thân. về ảnh hưởng của việc tập Thiền và cách ăn uống đến tính cách của mình
Gần một năm trời mình tập Thiền đều đặn >> kết quả nhu cầu ăn thịt của mình giảm đi rất nhiều. Từ mức có thể ăn hết nửa cân thịt mỡ luộc, mình giảm xuống mức độ thường xuyên ăn đậu và rau
Khác hẳn với việc tập luyện thể thao có cường độ mạnh như (Bóng đá, Thể hình...) cần có một chế độ ăn uống đầy đủ chất và no để bù đắp lại năng lượng đã mất. Thiền định giúp lấy năng lượng cho cơ thể nên chế độ ăn uống giảm đi rõ rệt
Với chiều cao 1m69, Người mình từ 68 kg giờ giảm còn 63 kg và ổn định giữ ở mức cân này
Gần đây, mình lại thử nghiệm không tập Thiền. Kết quả sau khi bỏ được gần 1 tháng. Mình lại ăn thịt nhiều hơn, lại mắc chứng bệnh đau lưng mà trước đó đã khỏi. Dễ nổi cáu và nổi nóng với mọi người hơn (ở mức độ vừa phải nhưng với bản thân mình không cho phép như vậy)
Việt Nam là một nước có số người bị ung thư cao nhất thế giới mà nguyên nhân chủ yêu là do ô nhiễm môi trường và các hóa chất độc hại trong thức ăn thì việc tập luyện thể thao là việc rất quan trọng
Nhưng tập luyện thể thao càng nhiều lại càng phải ăn nhiều hơn để bù năng lượng. Do vậy, theo mình điều quan trọng nhất vẫn phải tập Thiền Định
Quá nhiều lợi ích từ việc Tập Thiền ĐỊnh
- Sức khỏe tốt, bền bỉ, dẻo dai
- Trẻ lâu, cải thiện trí nhớ, giảm tải mức độ ăn xuống mức phù hợp
- Khai mở trí tuệ, nhìn nhận ra nhiều hướng nhìn mới
- Thấy thêm yêu cuộc đời hơn
- ...
Chúc các bạn luôn kiên trì trong việc tập luyện Thiền Định và thành công
Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013
Cẩm nang, Phương pháp giữ gìn sức khỏe
Bạn được bao nhiêu / 7 điều sau từ lời dạy của Hải Thượng Lãn Ông.
1. Ít nói để dưỡng nội khí.
2. Kiêng sắc dục để dưỡng tinh khí.
3. Bớt ăn vật hăng mạnh để dưỡng khí huyết.
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng tạng khí.
5. Chớ giận hờn để dưỡng can khí.
6. Chớ ăn uống quá độ để dưỡng vị khí.
7. Bớt lo nghĩ để dưỡng tâm khí.
Xem kỹ, Suy Nghĩ, Thực Hành.
Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012
Chữa bệnh bằng hơi thở (tham khảo) - chữa bệnh miễn phí
Bài viết sưu tầm để tham khảo thêm các phương pháp giữ gìn sức khỏe
Tác gỉa: Thầy Đỗ Đức Ngọc
Down Load tài liệu tại đây
Những kết qủa kỳ diệu của phương pháp tập thở khí công để chữa những bệnh nan y
Những kết qủa kỳ diệu của phương pháp tập thở khí công để chữa
những bệnh nan y
Hiện nay trên thế giới, mọi người đều xếp loại bệnh ung thư vào mục bệnh nan y khó chữa, vì
chưa tìm ra nguyên nhân, chỉ tìm ra hậu quả là bướu, nên chữa vào ngọn, tiêu diệt hậu quả mà
không tiêu diệt nguyên nhân, nên chữa xong bướu này, nguyên nhân phát sinh bệnh vẫn còn
lây lan sang nơi khác Tây Y gọi là di căn.
Cách chữa ung thư duy nhất theo Tây Y là hóa học trị liệu từ trước đến nay theo phương pháp
của Trường ĐạI Học Johns Hopkins, đã được xem là cách duy nhất để thử nghiệm và loại bỏ
ung thư. Nhưng ngày nay phương pháp này đã có một cách nhìn khác dần dần đi đúng lý thuyết
tinh-khí-thần trong Đông Y.
Chúng ta xem bài viết *Cập nhật về căn bệnh ung thư từ Trường Đại Học Johns Hopkins: * như
sau :
Tác gỉa: Thầy Đỗ Đức Ngọc
Down Load tài liệu tại đây
Những kết qủa kỳ diệu của phương pháp tập thở khí công để chữa những bệnh nan y
Những kết qủa kỳ diệu của phương pháp tập thở khí công để chữa
những bệnh nan y
Hiện nay trên thế giới, mọi người đều xếp loại bệnh ung thư vào mục bệnh nan y khó chữa, vì
chưa tìm ra nguyên nhân, chỉ tìm ra hậu quả là bướu, nên chữa vào ngọn, tiêu diệt hậu quả mà
không tiêu diệt nguyên nhân, nên chữa xong bướu này, nguyên nhân phát sinh bệnh vẫn còn
lây lan sang nơi khác Tây Y gọi là di căn.
Cách chữa ung thư duy nhất theo Tây Y là hóa học trị liệu từ trước đến nay theo phương pháp
của Trường ĐạI Học Johns Hopkins, đã được xem là cách duy nhất để thử nghiệm và loại bỏ
ung thư. Nhưng ngày nay phương pháp này đã có một cách nhìn khác dần dần đi đúng lý thuyết
tinh-khí-thần trong Đông Y.
Chúng ta xem bài viết *Cập nhật về căn bệnh ung thư từ Trường Đại Học Johns Hopkins: * như
sau :
Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012
Bệnh do tâm sinh, bản chất của bệnh tật, tại sao có bệnh?
BẢN CHẤT CỦA BỆNH Dr Bruce Lipton Chuyển ngữ: Thích Nữ Giác Anh
(09/13/2012) (Xem: 2343)
Tác giả :
Bruce Lipton
Thích Nữ Giác Anh
BẢN CHẤT CỦA BỆNH
Dr Bruce Lipton
Chuyển ngữ: Thích Nữ Giác Anh
Dr Bruce Lipton
Chuyển ngữ: Thích Nữ Giác Anh
Thỉnh thoảng cơ thể con người mất đi sự hòa hợp tự nhiên vốn có của nó, những lúc như vậy, cơ thể bị bệnh. Bệnh phản ánh cơ thể bất lực, không duy trì được hệ thống cung cấp chức năng làm việc bình thường. Qua quá trình trao đổi protein, những sự vận chuyển hình thành, những vận chuyển đó xuất hiện cùng với những tín hiệu bổ sung. Có hai nguyên nhân gây bệnh: một là protein có vấn đề, hai là các tín hiệu bị méo mó trục trặc.
Trên thế giới có khoảng 5% trẻ sơ sinh mang dị tật bẩm sinh. Những trường hợp đó xảy ra là do các gen biến đổi làm hư chức năng của protein. Cấu trúc gen biến dạng hoặc protein bị hư khuyết khiến bộ máy cơ thể bị hỏng, từ đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng sự sống. Tuy nhiên 95% dân số trên hành tinh này được chào đời với một bản thiết kế chức năng của gen rất hoàn hảo.
Do đa phần chúng ta vốn sinh ra đã hưởng một cơ chế gen di truyền khỏe mạnh và tạo những proteins đúng chức năng như thế, nên có thể nói, nguyên do phát sinh Bệnh nằm ở khía cạnh tín hiệu. Nói sơ lược, có ba trường hợp tín hiệu có thể gây Bệnh và hư hại chức năng.
Đầu tiên là do chấn thương. Khi tủy sống bị chấn thương, tùy theo mức độ nặng nhẹ mà sức chấn động có thể ảnh hưởng đến tín hiệu truyền tin của hệ thần kinh. Từ đó, thông tin liên lạc giữa não bộ và các mô, tế bào cũng như các cơ phận trong cơ thể có thể bị sai lạc, biến dạng.
Thứ hai là do độc tố. Chất độc hoặc các loại độc tố nói chung đều là những hóa chất gây ảnh hưởng nguy hiểm. Chúng bóp méo thông tin giữa hệ thần kinh đến các mô và tế bào trong cơ thể. Những tín hiệu đã bị thay đổi do trúng phải chất độc như thế, có thể ức chế hoặc ngăn chặn những phản ứng bình thường, dẫn đến biểu hiện của Bệnh.
Lý do thứ ba và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến tín hiệu thông tin, dẫn đến Bệnh - đó là Tư Tưởng. Tư Tưởng là hành động của Tâm. Những bệnh thuộc về Tâm không nhất thiết phải do một chỗ nào đó trong cơ thể vật lý có vấn đề, mà bệnh có thể bắt đầu từ đó. Sức khoẻ của con người dựa vào khả năng của hệ thần kinh có nhận lãnh đúng thông tin từ môi trường bên ngoài và chọn cách phản ứng thích hợp với cuộc sống hay không. Nếu Tâm không hiểu đúng tín hiệu từ môi trường và phát ra những phản ứng không thích hợp, lúc đó mạng sống có thể sẽ bị đe dọa vì phản ứng của cơ thể không còn đáp ứng được môi trường nữa. Chúng ta có thể không nghĩ Tư Tưởng không đủ khả năng phá hoại toàn bộ hệ thống, nhưng trên thực tế, nhận thức sai lầm có thể gây tử vong.
Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012
Tác hại của nước ngọt, nước giải khát có gas (Soft drink)
Nếu đang đi ngoài nắng hoặc làm việc trong điều kiện nắng
nóng mà có một ly nước, kể cả nước ngọt có gas để lạnh hay thêm đá uống vào, sẽ
thấy “thật đã khát” hơn là một ly nước lạnh thông thường. Lý do, ngoài phần nước
và độ lạnh của đá, vị ngọt của nước đường làm dịu vị giác, đặc biệt là những bọt
khí carbonic (CO2) lăn tăn trong nước có gas tác động vào gai lưỡi và vòm họng
đem lại cho người uống một cảm giác tê tê, lành lạnh thật đã, thật sảng khoái,
“tưởng chừng như” làm dịu ngay cơn khát. Thêm vào đó, chất đường và cafein có
trong nhiều loại nước ngọt còn là một chất kích thích gây thêm cảm giác sảng
khoái. Còn gì bằng!
Thế nhưng sau đó một lúc, cơn khát lại dậy lên vì nồng độ đường
cao làm ta khát nước thêm. Và ta muốn uống tiếp!
Cứ thế, người ta cứ uống, và các hãng nước ngọt cứ quảng cáo
và phát triển không ngừng!...
Vấn đề đặt ra là: Giải khát bằng nước ngọt vô chai, đóng lon
có gas: lợi hay hại cho sức khỏe?
Soft drink (tiếng Mỹ, còn gọi là soda, pop, soda pop, hay
carbonated beverage), như Coca Cola (Coke), Pepsi, Sprite, 7 Up, Xá xị, Trà Dr
Thanh, Trà xanh 0 độ, Chương dương, Tribeco… là thức uống ngọt, chứa nước được
carbonat hóa, chất làm ngọt và chất cho mùi vị…
Chất làm ngọt có thể là đường, xi rô bắp giàu fructose (high
fructose corn sirup) làm từ bắp đường hóa, hoặc một chất thay thế đường (dùng
cho người cữ đường). Ngoài ra còn có cafein và hương liệu hóa học, hoặc nước ép
trái cây, chiết xuất thảo mộc…..
Tác động trên sức khỏe:
Uống nước ngọt có gas chứa đường có liên hệ đến bệnh béo
phì, tiểu đường type 2, sâu răng, và suy dinh dưỡng. Nhiều loại nước giải khát
chứa các thành phần đáng quan ngại: cafein dùng nhiều sẽ gây kích thích và mất
ngủ. Tác động trên sức khỏe của xi rô bắp là vì fructose từ bắp và chất làm ngọt
nhân tạo (đường hóa học) còn nhiều bàn cãi… Sodium benzoat đã được khảo cứu cho
thấy có thể là nguyên nhân gây tổn hại DNA (phần tử chính mang mã di truyền) và
tăng tính hiếu động… Các chất có ảnh hưởng bất lợi khác cho sức khỏe, trong đó
có benzen (một chất có nguy cơ gây ung thư).
Năm 1998, Trung tâm khoa học về lợi ích cộng đồng ở Mỹ đã
công bố một báo cáo đặt vấn đề: “Nước ngọt có gas đang gây hại cho sức khỏe người
Mỹ”. Báo cáo đã xem xét các thống kê liên hệ đến việc tăng vọt mức tiêu thụ nước
ngọt có gas, đặc biệt là ở trẻ em, và hậu quả là gia tăng các vấn đề về sức khỏe
như: sâu răng, suy dinh dưỡng, béo phì, tiểu đường type 2 (trước đây chỉ xảy ra
ở người lớn) và bệnh tim mạch. Cơ quan này cũng xem xét lại việc quảng cáo nước
ngọt và đưa ra nhiều khuyến cáo nhằm giảm việc tiêu thụ nước ngọt có gas.
Béo phì và những bệnh có liên hệ đến tăng cân:
Từ năm 1977 đến 2001, mức tiêu thụ nước ngọt có gas của người
Mỹ tăng gấp đôi, một cái đà gia tăng song song với việc tăng gấp đôi số người mắc
bệnh béo phì. Việc tiêu thụ nước ngọt có gas liên hệ đến thể trọng và béo phì,
đồng thời làm thay đổi những con số nguy cơ về tăng thể trọng. Một khảo cứu
trên 548 học sinh trong vòng 19 tháng cho thấy việc tiêu thụ nước ngọt có gas
có liên quan đến sự thay đổi chỉ số thân khối (BMI). Mỗi chai (hoặc lon) nước
ngọt trẻ uống thêm hàng ngày đi kèm với sự gia tăng BMI lên 0,24 kg/m2. Cũng vậy,
một khảo cứu trong vòng 8 năm trên 50.000 nữ điều dưỡng để so sánh sự tăng trọng
giữa những người từ không uống nước ngọt đến uống hơn 1 lon/ngày, với những người
từng uống hơn 1 lon/ngày nay hầu như không uống nước ngọt nữa, thì thấy những
phụ nữ uống thêm nước ngọt tăng trung bình thêm 8 kg trong thời gian theo dõi,
so với những phụ nữ giảm uống nước ngọt chỉ tăng trung bình 2,8 kg. Người uống
càng nhiều nước ngọt có gas thì càng tăng cân nhiều. Sở dĩ uống nước ngọt có
gas bị như thế là vì chất ngọt từ đường bắp (corn sirup) mà nước ngọt ngày nay phần
lớn chứa đường fructose mà trong cơ thể không cần có insulin nó cũng biến thành
mỡ thừa nên gây mập!
Uống nước ngọt có gas cũng liên hệ với nhiều bệnh thường gặp
ở người thừa cân, bao gồm hội chứng chuyển hóa mà biểu hiện là thừa cân, tiểu
đường, huyết áp cao, nguy cơ tim mạch và cuối cùng là rút ngắn tuổi thọ!
Sâu răng:
Hầu hết nước ngọt có chứa một lượng lớn đường đơn: glucose,
fructose, saccarose... Vi khuẩn trong miệng làm lên men các loại đường bột và tạo
ra acid, làm hủy hoại lớp men răng. Nhiều loại nước giải khát có gas đều có
tính acid, một số loại có pH = 3, hay thấp hơn, nên sẽ ăn mòn men răng.
Do đó, uống nước ngọt có gas thường xuyên càng tăng nguy cơ
bị sâu răng.
Giảm kali/huyết:
Đã có những báo cáo về một số trường hợp giảm kali/huyết
nghiêm trọng liên quan đến uống quá nhiều nước ngọt có gas.
Giảm tỷ trọng xương (loãng xương):
Có nghiên cứu cho rằng có mối liên quan trái chiều giữa tiêu
thụ nước giải khát có gas và tỷ trọng xương ở các cô gái trẻ, khiến họ có nguy
cơ cao sẽ bị loãng xương, gãy xương trong tương lai.
Một giả thuyết được đưa ra để giải thích: đó là do chất acid
phosphoric chứa trong một số nước có gas (như Coca Cola) sẽ làm chuyển calci ra
khỏi xương, do đó làm giảm tỷ trọng xương, làm cho bộ xương yếu đi (loãng
xương). Trong những thập kỷ 1950 - 1960, tại Pháp và Nhật đã có ý định cấm bán
Coca Cola vì nguy cơ chất phosphat trong loại nước giải khát này có thể ngăn cản
sự hấp thu calci. Nhưng ý định này không đạt kết quả vì người ta đã chứng minh
lượng phosphat quá ít để có thể gây tác động có ý nghĩa.
Giá trị dinh dưỡng:
Trừ những loại nước có tăng cường thêm chất dinh dưỡng, nước
ngọt có gas hầu như không chứa vitamin, chất khoáng, chất xơ, chất đạm và những
chất dinh dưỡng thiết yếu khác. Nước giải khát có gas cũng thay thế sự lựa chọn
các loại nước giải khát tốt cho sức khỏe khác như nước, sữa, nước ép rau quả
nên làm tăng nguy cơ thiếu dinh dưỡng cho người dân…
Chất đường:
Lượng đường chứa trong nhiều loại nước ngọt thường cao hơn
lượng đường được khuyên dùng hàng ngày (theo khuyến cáo của Bộ nông nghiệp Hoa
Kỳ, không dùng quá 10 muỗng cà phê đường cho một khẩu phần 2.000 calo/ngày).
Cho đến năm 1985, lượng calo trong nước ngọt là do đường mía
hay xi rô làm từ bột bắp. Từ năm 2010, ở Mỹ và các nước khác, hầu như dùng hoàn
toàn xi rô bắp có tỷ lệ fructose cao (high fructose corn sirup), vì nó rẻ tiền
so với các loại đường khác. Loại đường bắp chứa fructose cao này bị chỉ trích
là có nhiều tác động xấu đến sức khỏe như là gây bệnh tiểu đường, tăng động,
tăng huyết áp và nhiều vấn đề khác nữa. Đường fructose bị hấp thu và chuyển hóa
nhanh hơn đường glucose do men fructokinase không bị tiết chế bởi sự chuyển hóa
hoặc hormon, đưa đến sự tạo ra các acid béo và triglycerid ở gan với tốc độ quá
nhanh, làm tăng sự tích tụ mỡ trong cơ thể và có thể gây chứng gan nhiễm mỡ
không do rượu.
Sự gia tăng lipid trong máu hình như cũng do sử dụng thường
xuyên fructose.
Phản ứng của các cơ quan chức năng:
Trước những hiểm họa đối với sức khỏe người dân mà các loại
nước ngọt có gas có thể gây ra, chính quyền ở một số nước đã từng đề ra nhiều
biện pháp để hạn chế:
Ở Mỹ, nhiều bang đã cấm đặt các máy bán nước ngọt gần trường
học vì cho rằng nước ngọt sẽ góp phần gây béo phì ở trẻ và sâu răng, nhưng cũng
có nhiều ý kiến chống lại, đặc biệt là do những khoản tài chánh hậu hỷ mà các
nhà sản xuất nước giải khát thường tài trợ cho các trường học.
Ngày 3/5/2006, Hiệp hội nước giải khát Hoa Kỳ cùng các hãng
sản xuất, trong đó có Coca Cola, Pepsi, Schweppes… đã ra tuyên bố tự nguyện rút
các loại nước ngọt có năng lượng cao khỏi các trường học. Kế đến, ngày
25/5/2006, bộ trưởng giáo dục Anh cũng tuyên bố: từ tháng 9/2006, không dùng nước
ngọt có gas trong bữa ăn trưa ở trường học và cũng không cho bán các thực phẩm
không có giá trị dinh dưỡng (trong đó có nước giải khát có gas) tại các máy bán
nước ngọt hay quầy giải khát trong trường học.
Các nhà làm luật cũng như các chuyên gia y tế và bảo vệ người
tiêu dùng còn đề xuất phải tăng thuế đánh trên các loại nước giải khát có đường
nhằm làm giảm tiêu thụ nước ngọt, giảm tệ nạn béo phì và các tác hại về sức khỏe
khác, nhưng vẫn chưa có kết quả vì các hãng nước giải khát đã có vị thế quan trọng
ở thủ đô Washington và từ năm 2000, họ đã đóng góp cho các nhà lập pháp hơn 50
triệu đô la!
Năm 2003, Trung tâm khoa học và môi trường, một tổ chức phi
lợi nhuận tại Ấn Độ công bố một báo cáo phát hiện nồng độ thuốc trừ sâu trong
nước giải khát Coca Cola và Pepsi bán ở Ấn Độ cao gấp 30 lần nồng độ an toàn
cho phép ở châu Âu, nhưng Bộ y tế Ấn Độ thì cho rằng thử nghiệm của trung tâm
kia không chính xác, vì thử nghiệm của bộ cho thấy nồng độ thuốc trừ sâu chỉ
cao hơn mức tiêu chuẩn của châu Âu, nhưng còn trong giới hạn tiêu chuẩn của Ấn
Độ (!)
Benzen:
Năm 2006, Cơ quan tiêu chuẩn thực phẩm ở Anh Quốc công bố những
kết quả khảo cứu về nồng độ benzen trong 150 sản phẩm nước giải khát có gas cho
thấy 4 mẫu chứa nồng độ benzen cao hơn mức hướng dẫn của Tổ chức y tế thế giới
về nước uống, nên đã yêu cầu rút các sản phẩm này ra khỏi thị
trường.
Tại Mỹ, FDA công bố những kết quả xét nghiệm nhiều loại nước
giải khát có chứa benzoat và acid erythorbic. Năm mẫu chứa nồng độ benzen cao
hơn tiêu chuẩn của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ đề ra là 5 ppb. Sau đó, một
nhóm hoạt động bảo vệ môi trường đã phát hiện những kết quả sau đây
trong các xét nghiệm của FDA: trong 24 mẫu nước giải khát có
gas không đường xét nghiệm có chứa benzen, từ 1995 - 2001, thì 19 mẫu (79%) chứa
đến 19 ppb benzen, cao gấp 4 lần tiêu chuẩn cho phép. Một mẫu chứa đến 55 ppb,
tức là cao gấp 11 lần tiêu chuẩn cho phép. Vậy mà, năm 2006, FDA phát biểu rằng
“họ tin là nồng độ benzen tìm thấy trong các loại nước giải khát cho đến nay
không tạo ra mối quan ngại nào cho người tiêu dùng(?!)”.
HOÀNG Y - DS. DIỆU PHƯƠNG
(sưu tầm)
Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012
Cần biết thêm về Bệnh ung thư.
Cập nhật về căn bệnh ung thư từ Johns Hopkins
1. Ai cũng có tế bào ung thư trong cơ thể. Những tế bào này không thể bị phát hiện trong những cuộc kiểm tra tiêu chuẩn, trừ khi chúng được nhân ra thành vài tỷ tế bào. Khi bác sĩ thông báo với bệnh nhân ung thư rằng sau khi trị liệu, cơ thể họ không sản sinh thêm tế bào ung thư nào khác, điều này có nghĩa là cuộc kiểm tra không phát hiện ra các tế bào ung thư do chúng chưa phát triển tới mức độ có thể nhận biết được.
2. Tế bào ung thư xuất hiện từ 6 tới 10 lần trong cuộc đời con người.
3. Khi hệ thống miễn dịch của cơ thể mạnh, hệ thống này tiêu diệt các tế bào ung thư đồng thời ngăn chặn chúng sinh sản và hình thành khối u.
4. Khi một người mắc bệnh ung thư có nghĩa là người đó suy dinh dưỡng đa cấp.... Điều này có thể do các nhân tố về di truyền, môi trường, thức ăn và lối sống...
5. Để tránh suy dinh dưỡng đa cấp, thay đổi thói quen ăn uống và bổ sung thực phẩm sẽ giúp tăng cường khả năng miễn dịch.
6. Hóa học trị liệu bao gồm việc làm nhiễm độc các tế bào ung thư phát triển nhanh, đồng thời cũng tiêu diệt các tế bào khỏe mạnh trong tủy xương và vùng dạ dày - ruột, và có thể gây tổn thương các cơ quan như gan, thận, tim, phổi...vv...
7. Các tia phóng xạ trong quá trình tiêu diệt tế bào ung thư có thể gây thương tổn tới các tế bào khỏe mạnh, các mô tế bào và các cơ quan trong cơ thể.
8. Trị liệu ban đầu bằng hóa học trị liệu và phóng xạ thường làm giảm kích cỡ khối u... Song sử dụng các biện pháp này lâu dài không tiêu diệt được khối u hoàn toàn.
9. Khi cơ thể nhiễm độc do hóa học trị liệu và tia phóng xạ, hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ trở nên yếu ớt và bị tổn thương, do vậy cơ thể thường không chỗng đỡ nổi với bệnh tật và các biến chứng.
10. Hóa học trị liệu và phóng xạ có thể khiến các tế bào ung thư biến chứng và khó tiêu diệt hơn. Phẫu thuật có thể khiến các tế bào ung thư di căn tới vùng khác trên cơ thể..
11. Một cách hữu hiệu để đối phó với các tế bào ung thư là "bỏ đói" chúng, không cung cấp dưỡng chất khiến chúng có thể sản sinh.
Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012
Sự thật về lời đồn bị dính ruột vì nuốt kẹo cao su
|
Trong số chúng ta, hầu như ai cũng đã từng ít nhất 1 lần vô tình nuốt phải kẹo cao su và cũng từng “ăn không ngon ngủ không yên” với những lời đồn thổi rằng sẽ bị dính ruột, tắc ruột hay phải mất 7 năm mới tiêu hóa hết… Phải chăng đó là sự thật?
Nuốt kẹo cao su gây dính ruột chỉ là lời đồn.
Trả lời cho câu hỏi này, Tiến sĩ Rodger Liddle - bác sĩ chuyên khoa dạ dày - ruột của Trường Y khoa Đại học Duke giải thích: “Không
có bất kỳ thứ gì có khả năng cư trú lâu bên trong cơ thể trừ khi nó quá
lớn không thể đưa ra khỏi dạ dày hoặc bị mắc kẹt ở ruột”.
Khi nuốt phải, bã kẹo cao su cũng sẽ đi
qua hệ tiêu hóa giống như tất cả mọi loại thực phẩm khác. Các chất tiết
ra từ cơ thể có thể ngay lập tức phá vỡ một số thành phần của kẹo cao
su, chẳng hạn như chất làm ngọt và chất chiết xuất từ dầu, nhưng với
chất bảo quản hay chất đàn hồi trong đó thì phải mất một vài ngày. Nhưng
cho dù là bao lâu thì cuối cùng, nó cũng sẽ biến mất.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với
việc bạn có thể nuốt kẹo cao su một cách thường xuyên trong khoảng thời
gian tương đối ngắn, đặc biệt là trẻ em, vì với số lượng lớn bã kẹo
được tích tụ trong ruột hay dạ dày, nguy cơ tắc đường tiêu hóa gây táo
bón là rất cao. Ở nhiều trường hợp, các bác sĩ đã phải dùng đến phương
pháp phẫu thuật để gắp chúng ra ngoài.
|
| Theo Đất Việt |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
